Kien 的个人资料Kien H. Bui照片日志列表 工具 帮助

日志


11月27日

Đừng sợ xã hội dân sự

Câu phát biểu thẳng thắn đó là của PGS-TS Đặng Ngọc Dinh, Viện trưởng Viện Những vấn đề phát triển.

Ông là người đứng đầu một tổ chức tự nguyện của trí thức về hưu mà theo ông là nơi chuyên thực hiện những hợp đồng tìm ra những hình thức để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình một cách thực sự.

Ông bảo xã hội dân sự (XHDS) trên thế giới có từ rất lâu nhưng ở Việt Nam, khái niệm này còn mơ hồ mà có lý do khách quan là Việt Nam trải qua chiến tranh nhiều năm nên mối quan hệ dân sự trong xã hội bị giảm sút. Tuy nhiên, XHDS bây giờ đang nổi lên hỗ trợ cho nhà nước mà ta thường hiểu là chủ trương “xã hội hóa”.

Oshin cũng phải có hội?!

* Người Việt Nam không mấy khi tự nguyện tham gia các tổ chức được quan niệm là thuộc XHDS. Thưa ông, ngoài chiến tranh còn lý do nào nữa?

+ Các đoàn thể ở Việt Nam lẽ ra phải hoàn toàn thuộc trong XHDS nhưng đến nay lại chưa hẳn thế vì tính tự nguyện rất ít. Ví dụ, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên... ít ai đệ đơn xin gia nhập mà đều phải có sự giới thiệu của tập thể, động viên của chính quyền. Sắp tới có luật về hội sẽ cho phép các cá nhân thành lập các hội thì có thể sẽ ra đời các hội như Hội những người làm ô-sin ở Hà Nội hoặc Hội những người đi lấy chồng ở Đài Loan... Các nước phát triển thì người ta tiến hành mọi hoạt động dựa vào luật.

Thời bao cấp, thể chế nhà nước bao trùm mọi không gian kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa... Gần đây xuất hiện một thể chế mới là thị trường, tức là không gian làm ăn, các doanh nghiệp tư nhân làm ăn. Để xã hội phát triển bền vững, rất cần thúc đẩy thêm một không gian mới. Đó là không gian “Liên kết người dân với nhau”, mà hạt nhân của không gian này chính là hội. Đấy là quy luật.

Thị trường đích thực giống như trong bóng đá, trọng tài quyết định hết. Nếu quyết định sai thì treo còi trọng tài chứ không ai được can thiệp trong trận đấu cả.

XHDS không mâu thuẫn với nhà nước

* Có ý kiến e dè vì phát triển XHDS, nhà nước sẽ phải san sẻ bớt quyền lực cho các hội?

+ Thực ra quyền tối cao của nhà nước là quản lý vĩ mô. Hội là đại diện cho những nhóm người dân lập ra để giúp nhau, bảo vệ quyền lợi cho nhau chứ không thể thay thế được nhà nước quản lý. XHDS nói lên sự tham dự của người dân, làm gia tăng vốn xã hội và làm cho xã hội hài hòa, không căng thẳng, không đơn điệu. Người dân có quyền nói về nhu cầu như thế nào, có quyền gửi thư đến các cấp chính quyền ra sao. Điều này không có gì mâu thuẫn với quyền lực nhà nước cả.

Phó giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Ngọc Dinh:

 - Sinh năm 1937.

- 1976 - 1986: Chủ nhiệm bộ môn, Trưởng khoa Điện - Điện tử (ĐH Bách khoa Hà Nội).

- 1986 - 1992: Giám đốc Trung tâm Thông tin - Tư liệu KH& CN Quốc gia.

- 1992 - 1997: Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách KH&CN.

- 2004 - 2007: Viện trưởng Viện Những vấn đề phát triển.

- Một số tác phẩm tiêu biểu: Xã hội dân sự ở Việt Nam - Các tiêu chí đánh giá (2007); Nhận dạng ban đầu về các chỉ số của xã hội công dân ở Việt Nam (2006); Thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức XHDS giải quyết xung đột tại các vùng nông thôn đô thị hóa; Phương pháp luận đánh giá các mô hình phát triển bền vững trong điều kiện Việt Nam (2006)... 

* Nhưng khi quyền lợi của người dân có mâu thuẫn với quyền lợi của một nhóm người cầm quyền thì cũng khó...?

+ Nếu một xã hội để quyền lợi của người dân luôn mâu thuẫn với nhóm người “cầm quyền” thì hỏng, bởi xã hội chỉ lành mạnh khi quyền lợi của người dân chính là quyền lợi của chính quyền. Cho nên một XHDS phát triển tức là quyền lợi của người dân tỷ lệ thuận với vị trí lãnh đạo của địa phương ấy.

* Nhưng khi thấy người dân viết đơn bày tỏ ý kiến với chính quyền, có người lại xem đó là “việc lớn”?

+ Cần phải hiểu người dân biểu thị thái độ là họ đang bức xúc chứ không nên cho rằng anh nào đâm đơn là anh ta đang gây chuyện hoặc là có tư tưởng phản động! Hiện Việt Nam đang dần đi tới xã hội văn minh, trong đó có sự hài hòa giữa pháp luật và quan hệ dân sự. Quan hệ dân sự làm cho pháp luật mềm mại hơn.

Do vậy, XHDS phát triển thì kiện sẽ ít đi. Lý do khiến cho kiện cáo nhiều là nhà nước không theo pháp quyền, đối xử không bình đẳng giữa lớp người này với lớp người khác, họ cảm thấy bị thiệt thòi nặng nề. Chuyện này mà không coi trọng sẽ gây nên những bất bình đẳng, tạo ra những xung đột xã hội.

XHDS giúp chống tham nhũng và quản lý xã hội

* Thưa ông, vậy vai trò cá nhân trong XHDS phải như thế nào?

+ Nếu cá nhân tham gia vào lãnh đạo thì càng phải thượng tôn pháp luật. Người dân bao giờ cũng ở vị trí thấp nhất về quyền hành nhưng lại phải chịu tác động lớn nhất từ xã hội, chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ chính sách... Cho nên vai trò cá nhân khi là người lãnh đạo thì phải thấu hiểu điều đó để làm thế nào cho người dân được tham gia, được các cấp lắng nghe. Còn cá nhân kinh doanh thì cũng phải hiểu, tôn trọng lắng nghe những người dân như vệ sinh thực phẩm... chứ đừng “thượng tôn lợi nhuận”, phải có đạo đức kinh doanh.

* Vậy các tổ chức XHDS có quyền hành gì trong việc này?

+ Quyền của nó là mang tính chất liên kết, làm cho đạo đức tăng lên. Chính XHDS mạnh là ở chỗ quyền hành của các tổ chức XHDS chi phối khiến người ta “tâm phục, khẩu phục” chứ không rõ ràng như cấp trên - cấp dưới.

* Phải chăng XHDS Việt Nam chưa hoàn thiện nên việc tham gia để chống tham nhũng... đối với cá nhân còn rất mờ nhạt?

+ Việc yêu cầu chính phủ giải trình các vấn đề còn rất ít bởi chúng ta chuyển chuyện đó vào trong Quốc hội. Đó là gián tiếp. Còn ở các nước khác thì quyền được yêu cầu chính quyền giải trình thể hiện rộng rãi hơn, rõ ràng hơn. Người dân có quyền yêu cầu chính phủ giải trình việc này, việc kia. Việc này hết sức bình thường trong một xã hội phát triển, trong đó tôn trọng vai trò XHDS.

* Vậy theo ông trong bao lâu nữa thì chúng ta có thể làm những điều bình thường như thế?

+ Nó sẽ song hành với quá trình phát triển thị trường đích thực. Khi có thị trường đích thực thì sẽ có tư pháp độc lập, khi đó có nhà nước pháp quyền đích thực và có thượng tôn pháp luật.

Có thể sẽ bầu cả Chủ tịch nước

* Quan điểm của ông về việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chính thức kiến nghị sửa một số điều khoản trong Hiến pháp để người dân tham dự vào công việc chung nhiều hơn, mở màn là việc người dân có thể bầu chủ tịch xã?

+ Đây là một câu chuyện mới trên một nền tảng pháp lý không mới. Người dân trực tiếp bầu lãnh đạo là việc đã được đề cập đến trong Hiến pháp năm 1946. Hiện nay, người dân cũng đang được thực hiện quyền bầu cử nhưng là bầu cử gián tiếp. Chẳng hạn người dân đang bầu cử đại biểu Quốc hội để đại biểu Quốc hội bầu Chủ tịch nước. Hơn nữa, đây là một dấu hiệu tốt vì người dân có quyền trực tiếp tham gia vấn đề lớn.

Nếu mà bầu chủ tịch xã được thì sau này sẽ bầu chủ tịch huyện được và cả bầu Chủ tịch nước. Đây là hướng đi theo sự phát triển của xã hội văn minh. Trong xã hội hiện đại hiện nay ở nhiều quốc gia, người dân có quyền tham gia một cách trực tiếp những công việc đại sự, không cần qua người đại diện của mình. Đó là xu thế tất nhiên.

* Việc trao quyền cho người dân, theo ông sẽ hiệu quả và thành công?

+ Tôi tin thế. Điều cốt lõi là nhà nước phải có niềm tin vào đa số nhân dân. Bầu cử trực tiếp sẽ có nhiều cái lợi, sẽ dần dần lôi cuốn sự tham gia của người dân vào công việc chung của cộng đồng. Bên cạnh đó, nên nhìn nhận rằng việc thí điểm chắc chắn sẽ thành công, vì đây là tín hiệu mới trên tiến trình dân chủ hóa. Vấn đề là ở Việt Nam, mọi thứ sẽ được tiến hành từng bước, có lộ trình. Theo tôi, sớm hay muộn thì cũng phải bầu cử trực tiếp vì đó là xu hướng chung của thế giới, của thời đại. Không nói ở đâu xa xôi, nước láng giềng Campuchia đã thực hiện điều đó rồi.

Cũng phải lobby đấy chứ!

* Tổ chức lobby có được gọi là một hoạt động của XHDS?

+ Lobby được hiểu là giải thích, thuyết phục mà không nên hiểu dùng tiền “mua chuộc”. Nó cũng là một tổ chức thuộc XHDS. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam có hai loại lobby. Một là cũng đi giải thích, thuyết phục..., hình thức này còn rất ít. Còn hình thức thứ hai là dùng tiền để “lo lót”. Chính vì vậy, hoạt động lobby ở Việt Nam bị hiểu sai, tức là “đi đêm”.

* Viện của ông đã là tổ chức XHDS chưa, thưa ông?

+ Có thể được coi là XHDS. Vì nó là tổ chức nằm ngoài chính phủ, hoạt động không bằng ngân sách của nhà nước, đều do những nhà khoa học đã về hưu và tự nguyện lập nên.

* Thế thì tác động của nó đối với xã hội như thế nào?

+ Tùy thuộc vào kết quả chúng tôi làm ra. Chúng tôi đưa lên mạng rồi tự nó sẽ lan tỏa. Khi các cơ quan nhà nước như Học viện Hành chính, Viện Khoa học xã hội Việt Nam chẳng hạn, đọc được nghiên cứu của chúng tôi, đây là một kênh tham khảo để họ lập nên các đề tài dự án cấp nhà nước.

* Với những người tự nguyện lập nên và sản phẩm làm ra lại không thể bán ngay để có “tiền tươi”. Vậy lấy kinh phí đâu ra để Viện của ông hoạt động?

+ Thì lấy tiền từ các hợp đồng đặt hàng nghiên cứu.

* Vấn đề quá mới mẻ nên dễ gì có những hợp đồng đặt hàng ngay?

+ Thực ra cũng phải lobby (cười). Tuy tôi mới chỉ bắt đầu nghiên cứu chuyên ngành này hơn ba năm nhưng thực ra họ biết tôi qua quá trình công tác. Vì thế cũng dễ liên hệ nếu quan tâm. Phải nói rằng thương hiệu thời mới này trong nhiều trường hợp là cá nhân chứ không chỉ là tập thể.

* Xin cảm ơn ông.

Theo TIẾN CẦU - LÊ THANH - Pháp luật TP.HCM

Nguồn: Tuổi trẻ

11月15日

Dân không vô cảm

 
Ông tổ trưởng tổ dân phố nơi cô Bình bị “hành hạ suốt 13 năm” vừa bị chính quyền quận Thanh Xuân bãi nhiệm. Có lẽ chính quyền muốn bày tỏ một thái độ “không vô cảm”. Tuy nhiên, sự ra đi của một nhân vật nằm ở vị trí cuối cùng và làm việc gần như không ăn lương này liệu có thể lấp đầy những “lỗ hổng” của hệ thống?

Câu chuyện tưởng đã kết thúc có hậu: hai vợ chồng chủ tiệm phở bị bắt; người giải cứu cô, bà lão 70 tuổi, nhận được bằng khen; nhiều cán bộ ban ngành, đoàn thể đã lên ti vi hứa sẵn sàng giúp đỡ. Nhưng sự kiện “ông tổ trưởng” và tiết lộ mới nhất của “người đàn bà 70 tuổi” này đã xới lại hai vấn đề mà chúng tôi đề cập dưới đây.
Bà Hà Thị Bình vừa kể với phóng viên báo Pháp Luật TP.HCM: sau khi giúp cô gái trốn thoát, bà đưa cô về trốn tại nhà một người con của mình. Một cảnh sát đến đó và phát hiện ra Bình khi cô đang ăn cơm. Chỉ hai tiếng đồng hồ sau, vợ chồng chủ quán phở mò tới. Bà Bình không kết luận gì, chỉ “linh tính thấy có điều chẳng lành”. Ngay lập tức, bà đưa cô gái đi trốn tại một trang trại ở cách Hà Nội 25km.

Chi tiết ấy góp phần lý giải vì sao, khi cô gái được giải cứu từ “quán phở”, bà Bình đã không đưa cô đến đồn công an hay một cơ quan chính quyền gần nhất như lẽ thường một người dân gặp nạn nên làm. Bà Bình cũng đã cho báo chí biết ngay từ khi nội vụ vỡ ra trước công luận: trước khi quyết định tự tay giải cứu cô gái, bà đã đích thân 4 lần báo cáo công an phường mà không có kết quả gì.

Cũng trong ngày mà bà Bình kể chi tiết ấy, phóng viên Đức Trung của báo Nông nghiệp cũng tường thuật một sự kiện mà anh từ nhân chứng trở thành nạn nhân. Khuya 9.11, khi chứng kiến một cảnh sát giao thông đánh một người chạy xe ngược chiều trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Bình Thạnh, anh Trung đã tới khuyên can. Sau khi biết anh là nhà báo, Trung được mời về phường làm nhân chứng. Tuy nhiên, trên đường đi, hai kẻ lạ mặt đã ép anh té xuống đường và lao vào đánh anh tới tấp. Theo lời kể của anh Trung, hai kẻ côn đồ này biết anh là nhà báo đang trên đường về phường làm nhân chứng cho vụ cảnh sát đánh dân vừa nói ở trên.

Không có nhiều hy vọng là sự việc sẽ được điều tra rốt ráo để biết chắc sự liên hệ giữa hai kẻ côn đồ đánh anh Trung với hành vi đánh dân của người cảnh sát mà anh định làm nhân chứng. Cũng như không thể kết luận vợ chồng chủ quán phở tìm ra nơi cô gái trốn có liên hệ tới sự bắt gặp của anh cảnh sát đến nhà con bà Bình. Nhưng, mối quan hệ của người dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật không chỉ bị chi phối bởi những tình tiết được chính các cơ quan này làm sáng tỏ. Nó còn được vận hành theo một cơ chế khác, cơ chế của lòng tin. Lòng tin là yếu tố quyết định để những người dân như bà Bình quyết định: mang cô gái lên đồn cảnh sát hay đưa cô đi trốn tận rừng núi Hoà Bình.

Không có ở đâu “bộ máy” được thiết kế để nắm dân “chặt chẽ” như ở ta. Nơi cơ sở, ngoài công an khu vực, còn có các chi hội, chi đoàn; ngoài các chi hội, chi đoàn còn có tổ trưởng, tổ phó dân phố; rồi dân phòng, rồi các cộng tác viên dân số…

Vụ một cô gái bị hành hạ suốt 13 năm ngay giữa một phường của thủ đô mà không bị phát hiện, cho dù rất cá biệt cũng không thể không phân tích những nguyên nhân bắt đầu từ hệ thống. Bà Nguyễn Thị Huyền Mùi, bí thư Đảng uỷ phường Nhân Chính hùng hồn: “Tôi tự hào rằng phường Nhân Chính có hệ thống chính trị từ phường đến khu dân cư rất chặt chẽ. Các bí thư chi bộ ở dưới báo lên. Sau đó thường vụ, ban chấp hành họp… Như thế có thể nói là chúng tôi nắm tình hình rất chắc. Hàng tháng, phường đều họp tất cả các hội, đoàn thể từ thanh niên, phụ nữ, chữ thập đỏ, tổ trưởng, tổ phó dân phố… để họ phản ánh”. Vậy mà sự việc trên đây, bà Huyền Mùi chỉ “biết qua báo đài”.

Không chỉ có những nhà lãnh đạo cấp phường như bà Huyền Mùi tự hào về “hệ thống”. Không có ở đâu “bộ máy” được thiết kế để nắm dân “chặt chẽ” như ở ta. Nơi cơ sở, ngoài công an khu vực, còn có các chi hội, chi đoàn; ngoài các chi hội, chi đoàn còn có tổ trưởng, tổ phó dân phố; rồi dân phòng, rồi các cộng tác viên dân số… Thế nhưng, một bé gái bị hành hạ như nô lệ suốt 13 năm ngay giữa thủ đô, hệ thống ấy vẫn không phát hiện được.

Có thể bản chất của vấn đề nằm ở chỗ, như ông Nguyễn Xuân Thịnh, chủ tịch phường Nhân Chính nói: “Dân không báo nên tôi không biết”. Cho dù có các báo cáo thường xuyên từ những thiết chế do phường nắm giữ, phường cũng không thể biết hết mọi thứ khi “dân không báo”. Nhưng dân chỉ có thể báo khi dân tin và muốn được dân tin, người lãnh đạo những thiết chế ấy phải “do dân” lựa chọn và quyết định.

Vụ cô gái bị hành hạ 13 năm, dù sao, cũng đã làm lộ sớm vấn đề cốt lõi của hệ thống. Những người nắm giữ các mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống chính trị ở phường Nhân Chính chắc chắn đều phải là những người được cấp uỷ và bà bí thư Đảng uỷ tin dùng. Bà Huyền Mùi không ngần ngại tuyên bố là bà “tự hào về hệ thống” ấy. Nhưng, nếu như người dân cũng không có đủ lòng tin và niềm tự hào vào những thiết chế đó như bà, thì kết quả, như chúng ta chứng kiến, “dân đã không báo” cho hệ thống những gì đang xảy ra, đang nhen nhúm. Và hệ thống ấy đã phải “ngạc nhiên” khi sự việc bị “vỡ” ngay chính trong phường mình.

 
Huy Đức - Báo Sài Gòn Tiếp thị - số 59 ngày 14/11/2007)
11月14日

Người đàn ông Hàn Quốc...

Xin kể lại một câu chuyện tại bưu điện ở HN cách đây không lâu mà tôi tận mắt chứng kiến.

Vào dịp bưu điện tổ chức khuyến mại miễn phí lắp đặt điện thoại, số người đăng ký rất đông, mọi người đều đứng đợi vẻ mệt mỏi và chán nản và than thở với nhau. Bên trong, các cô nhân viên bưu điện làm việc không thật nhiệt tình. Trong số những người đăng ký có một người đàn ông Hàn Quốc, dáng người nhỏ bé, với một tay bị bó bột. Đi cùng ông là một cô gái người Việt. Họ nộp hồ sơ và chờ đợi một lúc không lâu. Sau khi nhìn thấy thái độ làm việc của mấy cô nhân viên bưu điện, người đàn ông Hàn Quốc tiến đến đập tay mạnh vào bàn và nói "Hây, hây, hây" và ra hiệu đòi lại đơn đăng ký lắp đặt điện thoại. Mấy nhân viên bưu điện nhìn nhau, rồi ngoan ngoãn trả lại hồ sơ và có vẻ ngượng ngùng.

Nhìn hàng mấy chục người Việt trong đó có cả tôi đang chen chúc mệt mỏi chờ đợi và chẳng ai có lời yêu cầu mấy cô nhân viên bưu điện làm việc nghiêm túc hơn hay tỏ thái độ bất bình, còn người đàn ông Hàn Quốc bé nhỏ nhưng lại rất mạnh mẽ. Tôi tự hỏi: "Tại sao người Việt đông, to khoẻ và đang ở trên đất nước của chính mình lại yếu đuối thế? Sao người đàn ông Hàn Quốc bé nhỏ với cánh tay bó bột nơi đất khách quê người, lại không thạo ngôn ngữ ở đây lại đầy uy lực và sức mạnh đến thế? Có phải vì ông ấy giầu hơn?"

Có lẽ không phải, nhiều người Việt sợ làm sai, sợ bị người khác chê cười, và có thói quen cam chịu nên đành cam nhận sự bất công đến với mình. Làm sao có thể văn minh để quan tâm đến quyền lợi chung, đến xã hội cho được khi mỗi cá nhân chưa dám tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình?
11月12日

Hãy nói cho dân: Dịch Tả

Một nhà báo rất có lương tâm và cũng là một nhà báo dũng cảm. Tôi rất khâm phục anh vì sự dũng cảm và cái tâm yêu nghề. Xin trích bài viết trên blog của anh. Nhà báo Huy Đức của báo Sài Gòn tiếp thị.
 
122 bệnh nhân được chính thức công bố “dương tính với phẩy khuẩn tả”, tính đến chiều 6-11-2007. Nếu tính cả số bệnh nhân tả được phát hiện ở các bệnh viện địa phương, con số này còn cao hơn rất nhiều. Khả năng phát hiện khuẩn tả của các bệnh viện địa phương cũng rất đáng tin cậy. Bệnh viện Hải dương gửi 22 mẫu lên Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương kiểm tra, kết quả xét nghiệm cho thấy, cả 22 ca đều nhiễm bệnh tả như kết quả mà bệnh viện Hải Dương xét nghiệm.

Theo Quyết định số 4233, do chính Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu ký, thì: “Một vụ dịch tả được xác định khi có ít nhất một ca bệnh tả được xác định”. Thế nhưng cho tới chiều 6-11, khi đã có hàng trăm người mắc bệnh tả, các quan chức y tế vẫn gọi trận Dịch đang đe doạ tính mạng dân chúng này là: “Dịch Tiêu Chảy Cấp”. Không chỉ dân chúng, ngay cả các nhà chuyên môn cũng không hiểu chắc chắn, “tiêu chảy cấp” đích xác là loại bệnh gì.

“Dịch Tả” đã được phát hiện từ hai tuần trước. Bệnh nhân đầu tiên là một ông cụ 73 tuổi, bị tiêu chảy sau khi ăn cỗ “thịt chó, mắm tôm” về. Ngành Y tế đã dùng tới 7 tạ Chloramin B khử trùng một cái ao làng rộng hơn 8000m2 ở xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, nơi có chứa khuẩn tả sau khi người nhà đổ dịch nôn của cụ già xuống đấy. Theo đúng nguyên tắc do chính ông Bộ trưởng Y tế đưa ra, ngay lúc ấy, Bộ Y tế, lẽ ra, phải tuyên bố: Dịch Tả xuất hiện!

Mãi tới ngày 30 tháng 10, khi con số người mắc bệnh tả lên đến 36, Bộ Y tế mới tuyên bố “Dịch” với cái tên như chúng ta biết, “Dịch Tiêu chảy Cấp”. Cho dù các quan chức Y tế đã cố gắng nhấn mạnh hai chữ “nguy hiểm”, sức khuyến cáo của “tiêu chảy” đã không khiến cho dân chúng quan tâm đúng mức như điều mà Bộ Y tế cần. Thông thường, mỗi tháng, trên cả nước có khoảng 70 nghìn ca tiêu chảy, giờ công bố mấy chục ca, làm sao dân tình nghĩ, có gì là “cấp” với “nguy hiểm” đây.

Phải thừa nhận, ngành Y tế đã hành động khá quyết liệt: ra lệnh cấm mắm tôm và một số loại thức ăn; hướng dẫn điều trị bệnh theo phác đồ bệnh tả; cử nhiều đoàn đôn đốc kiểm tra; đích thân Bộ trưởng cũng có mặt ở những nơi dịch bệnh vừa bùng phát… Nhưng, làm sao Bộ có đủ người. Với những loại bệnh mà tốc độ lây lan rất nhanh như dịch tả, nếu người dân không được biết để chủ động phòng ngừa, dịch bệnh không dễ gì ngăn chặn được.

Vì thông tin “dịch tả” không xuất hiện trên báo chí chính thức, người dân phải thông báo cho nhau thông qua các phương tiện như blog, tin nhắn. Nhiều cơ quan, tổ chức nước ngoài chủ động cập nhật thông tin dịch tả cho nhân viên của mình qua email. Những ai biết được “Dịch Tả” đều bày tỏ sự phản ứng một cách có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Làm sao có thể thờ ơ với loại dịch bệnh có thể giết chết một con người đang khoẻ mạnh chỉ sau mười mấy tiếng đồng hồ. Mới năm ngoái đây thôi dịch tả xuất hiện ở Angola đã giết chết hơn 2000 người. Nhưng, đa số dân chúng, cho đến nay, vẫn không nghĩ “Tiêu Chảy Cấp” chính là “Dịch Tả” đang trở lại đe doạ ngay chính họ.

Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn, chiều 5-11 đã phải thừa nhận: “Ở nhiều nơi, nhiều địa phương, người dân chưa thấy hết mức độ nguy hiểm của dịch bệnh”. Website của Bộ Y tế ghi nhận, tại Hà Nội, mắm tôm, loại thức ăn mà ngành Y tế tin rằng có nguy cơ chứa vi khuẩn tả cao, vẫn được thản nhiên bày bán. Ngay cả các đại biểu đang dự họp Quốc hội cũng hết sức chủ quan trước những cảnh báo của ngành Y tế. Ngày 4-11, khi cán bộ Y tế kiểm tra nơi ở của 3 Đoàn Đại biểu Quốc hội, các loại mắm có nguy cơ lây dịch cao vẫn được các đại biểu thản nhiên sử dụng.

Từ 1 ca nhiễm dịch hôm 23-10 đến 36 ca, một tuần sau đó; hôm qua, 6-11, con số người bị tiêu chảy lên đến xấp xỉ 1000 với hàng trăm ca được xác định là mắc bệnh tả. Khi công bố “Dịch”, “Tả” chỉ mới xuất hiện ở 5 tỉnh, thành; nay có tới 11 tỉnh, thành có người mắc “Dịch”. Cục Trưởng Cục Y tế Dự phòng, Nguyễn Huy Nga, hôm qua xuất hiện trên website của Bộ với vẻ mặt lo lắng, “Nếu nguồn nước nhiễm khuẩn, nguy cơ đại dịch tới gần”. Ông Nga sợ rằng, sẽ không có đủ lượng Chloramin B để diệt khuẩn, nếu Dịch tiếp tục lây lan như thế.

Cho dù vẫn gọi “Tả” là “Tiêu Chảy Cấp”, ông Nguyễn Huy Nga phải thừa nhận hết sức xót xa: “Chúng ta không thể ngờ một loại dịch bệnh chỉ xảy ra ở những nơi lạc hậu thì lại đang xảy ra ngay giữa Thủ Đô”. Dịch Tả đúng là một chỉ dấu có thể dùng để đánh giá mức độ văn minh ở nơi mà nó xảy ra, tuy nhiên, văn minh cũng thể hiện thông qua cách mà chúng ta hành xử mỗi khi có dịch bệnh. Thật là không may, đại dịch xảy ra giữa khi bão lụt vẫn đang đe doạ cuộc sống của người dân ở Miền Trung. Thật là bất lợi khi một nước đang vất vả mời gọi khách du lịch lại phải công nhận, giữa Thủ Đô, xảy ra dịch tả. Nhưng, nếu thẳng thắn thừa nhận để ngăn chặn dịch hữu hiệu hơn, uy tín của chúng ta sẽ không bị tổn thương quá lớn. Năm 2003, Bộ Trưởng Y tế Trung Quốc đã từng bị kỷ luật vì bưng bít dịch SARS xảy ra ở Bắc Kinh. Không phải dịch bệnh, mà chính sự bưng bít ấy, đã làm Trung Quốc mất uy tín.

Không phải Bộ Y tế giấu giếm. Bộ cũng đã ban hành phác đồ điều trị bệnh tả, thông tin diễn tiến thường xuyên và làm mọi cách để ngăn chặn trận dịch này. Nhưng, nếu như khi phát hiện, Bộ Trưởng Bộ Y tế, xuất hiện ngay trên truyền hình tuyên bố tình trạng dịch bệnh và khuyến cáo dân chúng tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ dẫn phòng và trị “Dịch” thì tình hình có thể đã khác. Nếu như ngay từ ngày 23-10, khái niệm “Dịch Tả” đã được dùng thay vì nhọc công tu từ “Dịch Tiêu chảy Cấp”. Thì 2 tuần qua, ngành Y tế có lẽ đã nhận được sự hợp tác có trách nhiệm hơn của dân chúng và tình hình có thể đã không diễn ra càng ngày càng phức tạp như vậy. Phải nhanh chóng cho dân chúng biết chúng ta đang bị “Dịch Tả” đe dọa. Đây không chỉ là vấn đề “uy tín”, đây là vấn đề tính mạng của người dân.


Huy Đức